Thứ Hai, 6 tháng 7, 2015

Ibuprofen use leads to extended lifespan in several species, study shows -- ScienceDaily

Ibuprofen use leads to extended lifespan in several species, study shows -- ScienceDaily

A common over-the-counter drug that tackles pain and fever may also hold keys to a longer, healthier life, according to a Texas A&M AgriLife Research scientist. Regular doses of ibuprofen extended the lifespan of multiple species.

Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2015

HƯỚNG TIẾP CẬN THĂM KHÁM BỆNH THẦN KINH NGOẠI BIÊN



Mục đích thăm khám bệnh lý thần kinh ngoại biên là thiết lập chẩn đoán bệnh thần kinh ngoại biên (BTKNB), xác định là bệnh lý sợi trục hay bệnh lý mất myeline và tìm ra nguyên nhân.
Về mặt lâm sàng, BTKNB gây yếu và teo cơ, mất hoặc thay đổi cảm giác và giảm hoặc mất phản xạ gân xương. Nghiên cứu dẫn truyền thần kinh có thể phân biệt bệnh thần kinh mất myelin (chậm hoặc block dẫn truyền) với bệnh lý sợi trục (biên độ điện thế thấp) . Điện cơ (EMG) có thể phân biệt teo cơ do đứt dây thần kinh với bệnh cơ nguyên phát. Xét nghiệm dịch não tủy (CSF) hữu ích, đặc biệt trong bệnh lý viêm mất myelin. Do các rễ thần kinh cột sống và sọ não “tắm” trong dịch não tủy, bệnh thần kinh mất myeline mà nó bao gồm cả rễ thần kinh gây ra sự gia tăng protein dịch não tủy. Cũng như vậy, viêm các rễ thần kinh cũng gây mũ dịch não tủy. Khai thác bệnh sử cẩn thận, chú ý bệnh sử gia đình, phơi nhiễm môi trường và bệnh hệ thống, kết hợp thăm khám thần kinh với các xét nghiệm có thể xác định nguyên nhân trong hầu hết các BTKNB. Khi chẩn đoán hãy còn nghi ngờ thì nghiên cứu sinh thiết thần kinh có thể cho nhiều thông tin hơn. Thần kinh bắp chân thường được chọn để sinh thiết vì nó nông và dễ tìm.
Đái đường và bệnh lý thần kinh khác tác động chủ yếu đến các sợi không myeline hoặc sợi có myeline nhỏ truyền cảm giác đau và nhiệt. Sự thoái hóa trong “bệnh lý thần kinh sợi nhỏ” này bao gồm hầu hết phần xa (ngoại vi) của các sợi thần kinh mà nó được thấy trong các cơ quan và mô khác nhau hơn là trong các sợi thần kinh lớn. Nghiên cứu dẫn truyền thần kinh và EMG trong các nguyên nhân như vậy có thể là bình thường và sinh thiết thần kinh bắp chân có thể khó làm sáng tỏ. Chẩn đoán có thể thực hiện với sinh thiết da. Mật độ các sợi này giảm trong bệnh lý thần kinh sợi nhỏ. 
 
CÁC NGUYÊN NHÂN CHỦ YẾU CỦA BỆNH THẦN KINH NGOẠI BIÊN
1. Bệnh tự miễn (Viêm đa rễ thần kinh mất myeline).
2. Viêm mạch (bệnh mô liên kết).
3. Bệnh hệ thống (đái đường, ure huyết, bệnh sarcoid, phù niêm, to cực chi).
4. Ung thư (paraneoplastic neuropathy).
5. Nhiễm trùng (bệnh bạch cầu, phong, bệnh lyme, AIDS, herpes zoster).
6. Rối loạn protein huyết (u tủy,cryoglobulin huyết).
7. Suy dinh dưỡng và nghiện rượu.
8. Chèn ép và chấn thương.
9. Hóa chất công nghiệp độc và thuốc.
10. Bệnh thần kinh di truyền.

Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2015

XỬ LÝ KHI PHÁT HIỆN THAI CÓ DA GÁY DÀY

Phòng khám nội sản phụ khoa Huy Liễu: XỬ LÝ KHI PHÁT HIỆN THAI CÓ DA GÁY DÀY:

Mặc dù thai có da gáy dày thường đi kèm với bất thường và thai chết, tuy nhiên phần lớn thai sẽ sống và phát triển bình thường

Sau khi chẩn đoán dày da gáy, mục tiêu đặc ra là phải phân biệt chính xác và nhanh chóng giữa nhóm có khả năng bất thường và nhóm có khả năng bình thường.

Xử trí: Da gáy< 3.5 mm
Sinh thiết gai nhau (CVS): Quyết định có làm nhiểm sắc thể đồ thai hay không sẽ tùy thuộc vào nguy cơ chuyên biệt của từng thai phụ, mà xuất phát từ sự kết hợp giữa yếu tố tuổi mẹ, các dấu chứng trên siêu âm và đo nồng độ free ß-hCG and PAPP-A huyết thanh.

Cần siêu âm ở thời điểm 11-13 tuần và 20 tuần để tìm các bất thường thai.
Nếu không có bất thường, thai phụ sẽ được tư vấn rằng rất nhiều khả năng con của bà sẽ được sanh ra khỏe mạnh và phát triển bình thường. Cơ hội sanh thai có bất thường không cao hơn ở nhóm thai có da gáy dày.

Xử trí: Da gáy > 3.5 mm
Chiếm tỷ lệ khoảng 1% các thai kỳ

Nguy cơ bất thường NST là rất cao và bước đầu tiên trong xử trí các trường hợp này là đề nghị các thai phụ làm sinh thiết gai nhau để xác định bộ NST đồ thai.
Trong trường hợp tiền căn gia đình có các hội chứng di truyền mà có thể chẩn đoán được bằng phân tích DNA, sinh thiết gai nhau cũng nên được thực hiện để chẩn đoán các hội chứng này.
Siêu âm chi tiết nên thực hiện ở thời điểm 11-13 tuần để tìm kiếm các bất thường lớn và các hội chứng về gene.
Cũng cần thiết siêu âm chi tiết ở vài tuần sau và lập lại lúc tuổi thai 20 tuần

Nếu không có bất thường và dấu hiệu da gáy dày biến mất, thai phụ nên được tư vấn rằng khả năng con họ sẽ được sanh sống khỏe mạnh và phát triển bình thường rất cao. Khả năng trẻ có bất thường nặng hoặc chậm phát triển tinh thần không cao hơn so với trong cộng đồng.
Nêu không thấy bất thường nhưng da gáy dày tiếp tục tồn tại khi thai 14-16 tuần và tiến triển thành phù da gáy hoặc phù thai lúc 20-22 tuần, có thể có một tình trạng nhiễm trùng bẩm sinh hoặc hội chứng di truyền :

Cần thử máu mẹ: toxoplasmosis, cytomegalovirus, and parvovirus B19
Siêu âm theo dõi mỗi 4 tuần để xem phù thai có biến mất.
Cân nhắc có nên làm DNA để loại trừ các rối loạn gene như Noonan syndrome ngay cả khi không có tiền căn gia đình.
Có khoảng 10% nguy cơ thai chết chu sinh hoặc sanh sống đối với một hội chứng di truyền mà không được chẩn đoán tiền sanh.
Nguy cơ chậm phát triển tâm thần ở các trẻ còn sống là 3-5%.

TẦM SOÁT TRƯỚC SANH: DA GÁY DÀY

Phòng khám nội sản phụ khoa Huy Liễu: TẦM SOÁT TRƯỚC SANH: DA GÁY DÀY:

Độ dày lớp mờ da gáy tăng liên quan với:

Trisomy 21 và những bất thường nhiễm sắc thể khác
Hơn 50 loại dị tật và hội chứng di truyền
Tử vong thai nhi

Tuy nhiên, trong đại đa số các trường hợp, da gáy sẽ giảm đi và các bé được sinh ra khỏe mạnh


Chuột mắc trisomy 16, là một loại động vật thực nghiệm tốt cho trisomy 21 ở người, chúng cũng có những dị tật của tim và của mạch limpho
Ở phôi 14 – 16 ngày có sự tích tụ một lượng dịch đáng kể ở vùng cổ sau
Sinh bệnh học
Độ mờ da gáy dày có liên quan với một nhóm các tình trạng rối loạn và được lý giải là có thể không do một cơ chế riêng lẻ nào tạo ra sự tích tụ dịch dưới da vùng cổ thai nhi
Có thể bao gồm những cơ chế sau:

Những dị tật tim/ rối loạn chức năng tim
Tắc nghẽn hệ tĩnh mạch vùng đầu và cổ
Biến đổi cấu tạo của thành ngoài tế bào
Tắc nghẽn dẫn lưu bạch huyết
Thiếu máu bào thai
Giảm protein trong máu thai nhi
Nhiễm trùng bào thai