Mục đích thăm khám bệnh lý thần kinh ngoại biên là thiết lập chẩn đoán bệnh
thần kinh ngoại biên (BTKNB), xác định là bệnh lý sợi trục hay bệnh lý mất
myeline và tìm ra nguyên nhân.
Về mặt lâm
sàng, BTKNB gây
yếu và teo cơ, mất hoặc thay đổi cảm giác và giảm hoặc mất phản xạ gân xương. Nghiên
cứu dẫn truyền thần kinh có thể phân biệt bệnh thần kinh mất myelin (chậm
hoặc block dẫn truyền) với bệnh lý sợi trục (biên độ điện thế thấp) . Điện cơ (EMG) có thể phân biệt teo cơ do đứt
dây thần kinh với bệnh cơ nguyên phát. Xét
nghiệm dịch não tủy (CSF)
hữu ích, đặc biệt trong bệnh lý viêm mất myelin. Do các rễ thần kinh cột
sống và sọ não “tắm” trong dịch não tủy, bệnh thần kinh mất myeline mà nó bao
gồm cả rễ thần kinh gây ra sự gia tăng protein dịch não tủy. Cũng như vậy, viêm các rễ thần
kinh cũng gây mũ dịch não tủy. Khai thác bệnh sử cẩn thận, chú ý bệnh sử gia
đình, phơi nhiễm môi trường và bệnh hệ thống, kết hợp thăm khám thần kinh với
các xét nghiệm có thể xác định nguyên nhân trong hầu hết các BTKNB. Khi chẩn
đoán hãy còn nghi ngờ thì nghiên cứu sinh thiết thần kinh có thể cho nhiều
thông tin hơn. Thần kinh bắp chân thường được chọn để sinh thiết vì nó nông và
dễ tìm.
Đái đường và bệnh lý thần kinh khác tác động chủ yếu
đến các sợi không myeline hoặc sợi có myeline nhỏ truyền cảm giác đau và nhiệt.
Sự thoái hóa trong “bệnh lý thần kinh sợi nhỏ” này bao gồm hầu hết phần xa
(ngoại vi) của các sợi thần kinh mà nó được thấy trong các cơ quan và mô khác
nhau hơn là trong các sợi thần kinh lớn. Nghiên cứu dẫn truyền thần kinh và EMG
trong các nguyên nhân như vậy có thể là bình thường và sinh thiết thần kinh bắp
chân có thể khó làm sáng tỏ. Chẩn đoán có thể thực hiện với sinh thiết da. Mật
độ các sợi này giảm trong bệnh lý thần kinh sợi nhỏ.
CÁC NGUYÊN NHÂN CHỦ YẾU CỦA
BỆNH THẦN KINH NGOẠI BIÊN
|
1. Bệnh
tự miễn (Viêm đa rễ thần kinh mất myeline).
2. Viêm mạch (bệnh mô liên kết).
3. Bệnh hệ thống (đái đường, ure huyết,
bệnh sarcoid, phù niêm, to cực chi).
4. Ung thư
(paraneoplastic neuropathy).
5. Nhiễm trùng (bệnh bạch cầu, phong,
bệnh lyme, AIDS, herpes zoster).
6. Rối loạn protein huyết (u tủy,cryoglobulin
huyết).
7. Suy dinh dưỡng và nghiện rượu.
8. Chèn ép và chấn thương.
9. Hóa chất công nghiệp độc và thuốc.
10. Bệnh thần kinh di truyền.
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét